Quỹ hưu trí được hình thành từ những khoản đóng góp của người tham dự bảo hiểm hưu trí. Nguồn: internet Quỹ hưu trí được hình thành từ những khoản đóng góp của người tham gia bảo hiểm hưu trí (ngườilao động và người sử dụng lao động) và thực hiện các hoạt động đầu tư để chi trả lợi quyền hưu trí cho người lao động khi đến tuổi về hưu. Tại các thị trường phát triển trên thế giới, quỹ hưu trí là quỹ đầu tư có quy mô tài sản quản lý lớn nhất thị trường. Theo một thống kê do công ty Towers Watson kết hợp với tùng san Pensions & Investments thực hành, tại thời điểm cuối năm 2012, tổng tài sản quản lý của 300 quỹ hưu trí lớn nhất thế giới lên tới 14.000 tỷ USD. Đích đầu tư của quỹ hưu trí Hao hao như các quỹ đầu tư khác, quỹ hưu trí cũng có các đích đầu tư khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của chương trình bảo hiểm hưu trí. Xét theo cơ chế đóng góp - thụ hưởng của người dự bảo hiểm hưu trí, quỹ hưu trí bao gồm 02 loại: Quỹ hưu trí hoạt động theo cơ chế mức hưởng xác định trước (Defined Benefit, viết tắt là DB): Khi đến tuổi về hưu, người lao động sẽ nhận được lợi quyền hưu trí theo mức đã hợp nhất trước từ quỹ DB bất kể kết quả đầu tư của quỹ ra sao (tỉ dụ: 20% của lương bình quân 5 năm trước khi về hưu). Trường hợp kết quả đầu tư của quỹ không đủ bù đắp các khoản chi trả lợi quyền hưu trí, người sử dụng cần lao sẽ phải bù đắp phần chênh lệch. Quỹ hưu trí hoạt động theo cơ chế mức đóng xác định(Defined Contribution, viết tắt là DC):Khi đến tuổi về hưu, người cần lao sẽ nhận được lợi quyền hưu trí căn cứ vào kết quả đầu tư của quỹ DC. Không giống như quỹ DB, trách nhiệm của người dùng lao động chấm dứt ngay khi đã hoàn thành các khoản đóng góp vào quỹ theo thỏa thuận với người cần lao. Như vậy, đích đầu tư của quỹ DC là tối đa hóa lợi nhuận cho người lao động trên cơ sở các khoản đóng góp và quy định đối với hoạt động đầu tư của quỹ. Nhìn lại lịch sử phát triển của các quỹ hưu trí trên thế giới, quỹ DB là loại hình quỹ hưu trí xuất hiện trước hết. Tuy nhiên, quỹ DB hiện đang được thay thế bằng quỹ DC, đặc biệt là tại các nước phát triển. Có nhiều căn nguyên có thể giải thích cho xu hướng này, trong đó một nguyên do hay được nhắc tới là thị trường chứng khoán hiện đại ngày một biến động phức tạp. Có những giai đoạn thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh, ảnh hưởng đáng kể đến khả năng chi trả của các quỹ DB trong khi lợi quyền hưu trí vẫn không đổi thay dẫn tới người sử dụng lao động phải thực hiện các khoản đóng góp bổ sung ngày một lớn. Lệ luật giới hạn định lượng (Quantitative Limit Rule) và lề luật cẩn trọng (Prudent Person Rule): Ngoài vai trò là một dụng cụ đầu tư, quỹ hưu trí có ý nghĩa tầng lớp rất lớn vì kết quả đầu tư của quỹ tác động trực tiếp tới cuộc sống của người cần lao. Chính bởi thế, hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí chịu sự giám sát rất chém của các cơ quan quản lý quốc gia. Hiện tại, có hai cách tiếp cận đối với việc giám sát hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí như sau: Lệ luật giới hạn định lượng (QLR):Theo lề luật này, tỷ trọng của một loại tài sản trong danh mục đầu tư của quỹ được xác định cụ thể căn cứ vào mức độ rủi ro của bản thân tài sản đó(Ví dụ: trái khoán chính phủ tối thiểu 50%, cổ phiếu tối đa 20%...). Ưu điểm của cách tiếp cận này là rõ ràng nên cơ quan quản lý dễ dàng triển khai việc thẩm tra, giám sát. Chính vì ưu điểm này mà quy tắc giới hạn định lượng được sử dụng phổ thông tại các nước đang phát triển. Lề luật thận trọng (PPR):lệ luật này không đưa ra một giới hạn cụ thể nào cho các tài sản trong danh mục đầu tư mà thay vào đó là những tiêu chí mà người quản lý đầu tư phải tuân thủ trong quá trình thực hiện đầu tư cho quỹ hưu trí (tỉ dụ: Hành động vì lợi ích tối đa của người thụ hưởng, Xây dựng danh mục đầu tư đa dạng, Tránh các rủi ro không ăn nhập, Tránh xung đột lợi....). Một số loại quỹ hưu trí dạng DC Sự ra đời của bảo hiểm hưu trí theo cơ chế DC phối hợp với lệ luật PPR đã dẫn tới sự phát triển đa dạng của các quỹ hưu trí. Ngày nay, ở các nước phát triển, khi khai triển chương trình bảo hiểm hưu trí cho người cần lao, người sử dụng cần lao kết hợp với các đơn vị cung cấp dịch vụ xây dựng một hệ thống các quỹ hưu trí. Mỗi quỹ hưu trí trong hệ thống sẽ ứng dụng một chiến lược đầu tư với chừng độ rủi ro nhất định. Cứ vào các đặc điểm riêng của bản thân, đặc biệt là khả năng ưng ý rủi ro, người lao động sẽ tự quyết định việc phân bổ tài sản vào hệ thống các quỹ hưu trí đó. Ưu điểm của chương trình bảo hiểm hưu trí dạng này là sự linh hoạt đối với người lao động. Mặc dầu vậy, nhược điểm của nó là người cần lao phải được trang bị những tri thức về tài chính, đầu tư khá chuyên sâu để hiểu được hoạt động của quỹ hưu trí cũng như những đặc điểm của bản thân để từ đó xây dựng được một kế hoạch phân bổ tài sản phù hợp. Mặt khác, nếu cơ quan quản lý áp dụng những lề luật hạn chế định lượng quá chặt thì sẽ hạn chế đến việc hình thành một hệ thống quỹ đầu tư đa dạng. Ngoài cơ chế linh hoạt như trên, trường hợp người cần lao chẳng thể quyết định được kế hoạch phân bổ tài sản của mình, nhiều chương trình bảo hiểm hưu trí đưa ra một chọn lựa khác gọi là chọn lọc “mặc định”. Bình thường lựa chọn mặc định là một quỹ đầu tư sử dụng chiến lược đầu tư thăng bằng theo đó tỷ trọng của các loại tài sản trong danh mục đầu tư được quy định cụ thể trong suốt thời gian hoạt động của quỹ (tỉ dụ: Tỷ trọng cổ phiếu là 50%, trái khoán là 50%...). Theo định kỳ, người quản lý đầu tư sẽ rà tỷ trọng của các loại tài sản trong danh mục đầu tư và thực hiện điều chỉnh về tỷ trọng mục tiêu nếu cần thiết (Ví dụ: Bán cổ phiếu được xem là over-priced và mua cổ phiếu được xem là under-priced). Quản lý rủi ro cho quỹ hưu trí Sự khác biệt căn bản về rủi ro đối với Quỹ hưu trí có mức đóng xác định (Defined Contribution) và Quỹ hưu trí có mức hưởng xác định trước (Defined Benefit) nằm ở rủi ro về đầu tư. Nếu như đối với quỹ DB, doanh nghiệp sẽ phải chịu rủi ro khi giá trị tài sản của quỹ hưu trí giảm mạnh, thì với quỹ DC, rủi ro này đã được chuyển sang cho người lao động. Có thể nói việc các doanh nghiệp tham gia Quỹ hưu trí DC sẽ không phải chịu bất kỳ rủi ro nào. Nếu lợi nhuận của quỹ hưu trí thấp hơn kì vọng, khi đó người lao động sẽ phải chịu phần chênh lệch này. Đối với quỹ hưu trí DC, nhà quản lý quỹ cũng sẽ không phải ước lượng giá trị ngày nay của khoản nợ phải trả trong mai sau (vốn không hề dễ dàng bởi khó có thân xác định xác thực lãi suất chiết khấu trong mai sau), điều này sẽ loại bỏ rủi ro về thanh khoản giữa giá trị về tài sản (asset) và nợ phải trả (liability). “Cơn bão hưu trí” (A Perfect storm pension) - khái niệm ám chỉ khi giá trị tài sản của quỹ hưu trí giảm mạnh xuống dưới giá trị chiết khấu của khoản nợ - vốn xuất hiện tại thời khắc khủng hoảng năm 2000 và 2008 sẽ không xảy ra với Quỹ hưu trí DC. Bởi vậy rủi ro về thanh khoản trong việc đáp ứng trách nhiệm nợ và tài sản của quỹ hưu trí sẽ được giảm tối đa. Do người lao động sẽ tự chọn lựa quỹ hưu trí theo các hình thức đầu tư khác nhau (cổ phiếu, trái phiếu, phương tiện tiền tệ khác..) Nên mức độ rủi ro về đầu tư cũng sẽ rất khác nhau theo từng cấu trúc tài sản, cũng như mức hài lòng rủi ro của người cần lao. Nhìn chung, quỹ hưu trí DC sẽ gặp phải các loại rủi ro chính như rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động. Rủi ro về thị trường - Sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Rủi ro về thị trường là rủi ro thất thoát vốn do những biến động bất thường của thị trường gây ra như giá cổ phiếu, biến động của lãi suất. Để giảm thiểu rủi ro về thị trường ở cách thức đơn giản và phổ biến nhất đó chính là tăng tỷ trọng đầu tư của quỹ vào các loại tài sản an toàn. Tài sản của quỹ hưu trí có thể được đầu tư vào những phương tiện tài chính có mức rủi ro thấp hoặc phi rủi ro như trái khoán Chính phủ. Nhược điểm của loại hình đầu tư trên là mức biến động về lợi nhuận thấp, điều này đồng nghĩa với việc lợi nhuận làng nhàng thu được của quỹ cũng thấp theo, do đó, sẽ làm giảm mức thu nhập trung bình của người cần lao. Để giám sát rủi ro về thị trường, các phương tiện căn bản thường được sử dụng như: - Stress Tests: Thiết lập các kịch kiểm tra tên miền bản của thị trường một cách ngẫu nhiên hay được xây dựng bởi dữ liệu trong kí vãng. Đây là một cách thức hiệu quả được dùng để soát lại vị thế của danh mục đầu tư. - Value At Risk (VaR): đo lường mức độ tổn thất tiềm năng của danh mục qua một khoảng thời gian cố định ứng với độ tin tưởng.# Cho trước. Ngoài hai chỉ số chính kể trên, các công cụ khác như thẩm tra khả năng đa dạng hóa về cổ phiếu, ngành nghề đầu tư, tracking error (cho danh mục cổ phiếu) hay PV01, Macaulay Duration (cho danh mục trái phiếu) cũng được sử dụng để quản lý rủi ro cho danh mục đầu tư. Các công cụ giám sát có thể thêm bớt, đổi thay tùy thuộc vào cơ cấu về tài sản, mục tiêu về lợi nhuận, mức độ chấp nhận rủi ro của danh mục. Rủi ro về tín dụng Đây là rủi ro khi đối tác mất khả năng thực hành nghĩa vụ về tài chính, dẫn đến nguy cơ mất vốn đầu tư (trái khoán doanh nghiệp, tiền gửi tại tổ chức tín dụng). Bình thường trên thế giới, để kiểm soát rủi ro này, các nhà quản lý quỹ sẽ sử dụng bảng xếp hạng về tín dụng do các tổ chức uy tín cung cấp như Moody’s, S&P, Fitch… Tuy nhiên tại Việt Nam, việc xếp hạng tín dụng chưa được phổ quát nên giải pháp duy nhất là áp dụng mô hình tín dụng nội bộ (như mô hình định lượng để đánh giá chất lượng tín dụng của từng tổ chức phát hành của Công ty Quản lý Quỹ Bảo Việt). Ngoại giả mức độ đa dạng hóa về trái phiếu doanh nghiệp, tiền gửi cũng cần phải được giám sát chặt chịa bằng việc đưa ra các giới hạn đầu tư tối đa vào một tổ chức tín dụng nhằm hạn chế tổn thất nếu có rủi ro phát sinh. Rủi ro về hoạt động Cùng với sự trở lại của những cuộc khủng hoảng về tài chính trong những năm qua, các tổ chức tài chính ngày càng chú trọng hơn trong việc áp dụng quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động của mình. Trong một bản nghiên cứu trong năm 2010, 89% các tổ chức tài chính chuyên nghiệp đều đã bổ nhiệm giám đốc về quản lý rủi ro trong vai trò hội tụ và giải trình các thưa liên hệ đến rủi ro của quỹ. Rủi ro về hoạt động có thể gây nên những tổn thất trầm trọng cho quỹ đầu tư, căn nguyên phát xuất có thể từ việc không tuân thủ các quy định về rủi ro hoạt động, do hệ thống công nghệ thông tin, quy trình xử lý giao thiệp, tiến hành thanh toán chậm trễ, hoặc do bên thứ ba gây ra. Do đó cần phải có kiểm soát nội bộ để kiểm soát các rủi ro can dự đến hoạt động quản lý đầu tư như rủi ro hoạt động, rủi ro thương nghiệp. Đối với rủi ro từ bên thứ ba, công ty cần phải tiến hành quy trình due diligence nhằm đánh giá chi tiết về năng lực của đối tác, sự chuẩn y của Ủy ban Quản lý rủi ro, và chung cuộc bộc trực giám sát chất lượng của đối tác. Quỹ hưu trí – Mảnh đất màu mỡ cho các công ty quản lý quỹ Hoạt động đầu tư của quỹ hưu trí không được thực hành trực tiếp bởi người cần lao hay doanh nghiệp dùng cần lao mà sẽ được giao cho các công ty quản lý lý quỹ chuyên nghiệp phê duyệt hình thức giao kèo ủy thác. Tại Việt Nam, quỹ hưu trí vẫn là một khái niệm khá mới mẻ và các công ty quản lý quỹ nội địa vẫn đang trong quá trình tìm hiểu cũng như học tập kinh nghiệm quốc tế trong việc vận hành và quản lý rủi ro cho hoạt động đầu tư của quỹ. Những khảo sát mới đây đã cho thấy tiềm năng huy động quỹ dạng này ở Việt Nam là rất lớn. |
Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014
Hoạt động đầu tư của quỹ Kiểm tra tên miền hưu trí
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét